Cơ sở tri thức
 
 
 
 
Internet
Webserver hoạt động như thế nào?

Bạn đã bao giờ biết cơ chế  truyền tải  các trang web như thế nào?. Giả sử bạn ngồi trước máy tính, mở trình duyệt web và muốn xem một trang web bất kỳ nào đó, khi bạn click chuột vào đường link đến trang đó hoặc đánh vào địa chỉ của trang web  (URL – uniform resource locator), những hoạt động gì sẽ xẩy ra đằng sau đó, để trang web mà bạn cần xem hiển thị ra màn hình?

Để biết rõ các tiến trình đó, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cơ chế làm việc của máy chủ WEB?

Các tiến trình cơ bản
Khi bạn ngồi trước máy tính và đang duyệt web trên Internet. Có một người bạn của bạn gọi điện thoại cho bạn và nói “Tôi vừa đọc một bài viết rất hay! Bạn hãy đánh vào địa chỉ sau và xem thử nhé, địa chỉ trang web đó là http://computer.howstuffworks.com/web-server.htm “.  Khi bạn gõ vào địa chỉ trang web đó trên trình duyệt web và ấn Enter, và thật là kỳ diệu, trang web đó đã hiển thị trên màn hình của bạn.

Vậy, làm thế nào mà trang web có thể hiện thị được trên màn hình của bạn, cơ chế hoạt động của máy chủ Web như thế nào?. Chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn bằng bài viết dưới đây.
Các bước cơ bản trong tiến trình truyền tải trang web đến màn hình của bạn được thể hiện theo mô hình sau:

 

Theo mô hình trên, trình duyệt  web  thực hiện một kết nối tới máy chủ web, yêu cầu một trang web và nhận lại nó. Sau đây, là thứ tự từng bước cơ bản xảy đến đằng sau màn hình của bạn:

  • Trình duyệt web tách địa chỉ website làm 3 phần:
    1. Phần giao thức: (“http”)
    2. Máy chủ tên miền: (www.howstuffworks.com)
    3. Tên tệp: (“web-server.htm”)
  • Trình duyệt liên hệ với máy chủ tên miền để chuyển đổi tên miền “www.howstuffworks.com” ra địa chỉ IP (Internet Protcol).
  • Sau đó, trình duyệt sẽ gửi tiếp một kết nối tới máy chủ có địa chỉ IP tương ứng qua cổng 80.
  • Dựa trên giao thức HTTP, trình duyệt gửi yêu cầu GET đến máy chủ, yêu cầu tệp “http://computer.howstuffworks.com/web-server.htm.”. (Bạn chú ý, cookies cũng sẽ được gửi kèm theo từ trình duyệt web đến máy chủ)
  • Tiếp đến, máy chủ sẽ gửi đoạn text dạng HTML đến trình duyệt web của bạn. (cookies cũng được gửi kèm theo từ máy chủ tới trình duyệt web, cookies được ghi trên đầu trang của mỗi trang web)
  • Trình duyệt web đọc các thẻ HTML, định dạng trang web và kết xuất ra màn hình của bạn.

Nếu bạn chưa từng bao giờ khám phá tiến trình trên, bạn sẽ gặp phải rất nhiều thuật ngữ mới. Để hiểu hiểu một cách chi tiết, bạn cần biết thêm về các khái niệm như địa chỉ internet (địa chỉ IP), các cổng (ports), các giao thức (protocol)… Đoạn viết sau sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn.

Internet

Internet là gì? Internet là tập hợp khổng lồ của hàng triệu máy tính, được nối với nhau trên một mạng máy tính. Mạng máy tính này cho phép tất cả các máy tính trao đổi thông tin cho nhau. Một máy tính đặt ở nhà  có thể tham gia vào mạng Internet thông qua đường điện thoại, đường thuê bao số hoặc cáp modem kết nối đến nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet service provider – ISP). Máy tính trong các công ty, trường học thường có 01 card mạng (Network interface Card – NIC) để kết nối trực tiếp vào mạng nội bộ (Local Area Network) của công ty hoặc trường học. Mạng nội bộ của công ty, trường học sẽ được nối tới nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP bằng một đường điện thoại có tốc độ cao, ví dụ như đường T1. Mỗi đường T1 có thể đạt tốc độ 1.5 triệu bit trên 1 giây, trong khi một kết nối điện thoại thông thường chỉ đạt 30.000 đến 50.000 bít trên giây.Những nhà cung cấp dịch vụ ISP sẽ nối tới nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn hơn…Đối với các đường kết nối chính trong một quốc gia hay khu vực, nhà cung cấp dịch vụ Internet thường sử dụng sợi cáp quang. Hệ thống đường cáp chính trên toàn thế giới được kết nối bằng các loại đường sợi cáp quang, cáp đi ngầm dưới biển hoặc bằng hệ thống vệ tinh (satellite). Bằng cách như vậy, thì mỗi một máy tính trên Internet đều được kết nối với nhau trên Internet.

Máy chủ và máy khách

Nhìn chung, máy tính trên Internet có thể được chia làm loại: Máy chủ và máy khách. Máy chủ là loại máy tính cung cấp dịch vụ (máy chủ dịch vụ web, máy chủ dịch vụ thư điện tử) đến các máy khác. Máy khách là những máy tính được sử dụng để kết nối tới các dịch vụ trên các máy chủ. Khi bạn kết nối tới Yahoo! tại địa chỉ http://www.yahoo.com để xem trang web, trong trường hợp này, Yahoo! đang sử dụng một máy tính, được gọi là máy chủ (cũng có thể là một nhóm các máy chủ có cấu hình lớn) được kết nối trên Internet, nhằm cung cấp dịch vụ cho bạn. Ngược lại, máy tính của bạn có thể không cung cấp dịch vụ nào trên Internet để người khác truy cập, do đó nó chỉ được coi là máy tính sử dụng thông thường, hay còn gọi là máy khách.

Một máy chủ có thể cung cấp một hay nhiều dịch vụ trên Internet. Ví dụ, một máy chủ thì có thể  có nhiều phần mềm chạy trên nó, cho phép nó hoạt động như là máy chủ web, máy chủ email hoặc máy chủ FTP.  Các máy trạm kết nối tới máy chủ thường với “mục đĩch” cụ thể, nó hướng  yêu cầu của mình tới một máy chủ có ứng dụng phù hợp với “mục đích” đó, ví dụ nếu bạn đang chạy chương trình duyệt web trên máy tính của bạn, có nghĩa máy tính của bạn đã kết nối tới máy chủ dịch vụ web. Tương tự, chạy ứng dụng Telnet trên máy tính của bạn sẽ kết nối tới máy chủ dịch vụ Telnet, chạy ứng dụng email sẽ kết nối tới máy chủ dịch vụ email…
Địa chỉ IP ( IP address)
Để tất cả máy tính trên Internet có thể liên hệ với nhau, mỗi máy tính được cung cấp một địa chỉ duy nhất trên Internet, gọi là IP. Địa chỉ IP là viết tắt của từ Internet Protocol. IP là một số 32 bít và được thể hiện  dưới dạng con số thập phân gồm có 4 “octet”,  ví dụ 216.27.61.137. 4 con số trong một địa chỉ IP  được gọi là các “octet”, vì mỗi số có thể có giá trị từ 0 đến 255, có nghĩa mỗi “octet” có đến 2 8 giá trị khác nhau.

Địa chỉ IP là duy nhất đối với mỗi máy tính khi tham gia Internet .Đối với máy chủ, địa chỉ IP là cố định. Một máy tính, khi được kết nối Internet bằng đường line điện thoại thông qua modem, thì  được cung cấp địa chỉ IP bởi nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Địa chỉ IP này là duy nhất cho mỗi lần kết nối, cũng đồng nghĩa nó sẽ thay đổi địa chỉ IP khác khi kết nối lần tiếp theo. Theo cách này, thay vi phải cung cấp địa chỉ IP cho từng khách hàng truy cập, nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP chỉ cần một địa chỉ IP cho một modem.

Nếu bạn làm việc trên hệ điều hành windows, bạn có thể xem rất nhiều thông tin liên quan Internet được ghi vào cấu hình máy tính của bạn, bao gồm địa chỉ IP hiện tại, tên máy..  bằng cách sử dụng lệnh WINIPCFG.EXE (IPCONFIG.EXE trên Windows 2000/XP). Trên máy Unix,để hiển thị địa chỉ IP, tên của máy tính, bạn chỉ gõ dòng lệnh nslookup tại dấu nhắc.
Khi máy tính được kết nối Internet, thông số địa chỉ IP là quan trọng nhất giúp bạn kết nối tới máy chủ. Ví dụ, trên trình duyệt web, bạn có thể gõ địa chỉ kết nối http://209.116.69.66,  lúc này, bạn đang kết nối kết máy chủ  có địa chỉ IP là 209.116.69.66 và máy chủ đó có dịch vụ Web server cho website HowStuffWorks.

Các máy chủ tên miền (Name servers)
Thông thường, người dùng Internet không thể nhớ hết các con số trên địa chỉ IP, và một lý do nào đó địa chỉ IP cũng có thể thay đổi. Vì vậy, tất cả các máy chủ trên Internet đều phải có một tên sao cho dễ đọc, thường được gọi là “tên miền” – Domain names. Ví dụ, tên miền http://www.howstuffworks.com  là tên cố định, dễ đọc hơn so với việc phải nhớ địa chỉ IP 209.116.69.66.
Tên miền  http://www.howstuffworks.com gồm có 3 phần:

  1. Tên máy (“www”)
  2. Tên miền (“howstuffworks”)
  3. Tên miền cấp một (“com”)

Tên miền được quản lý bởi một công ty, tên là VeriSign. VeriSign tạo ra các tên miền “cấp một” và đảm bảo tất cả tên miền khác trong tên miền cấp một là duy nhất. VeriSign cũng duy trì các thông tin liên quan đến mỗi địa chỉ tên miền trên cơ sở dữ liệu “whois”.
Tên máy được tạo bởi công ty cung cấp dịch vụ lưu trữ tên miền. “www” là tên máy phổ biến, nhưng nhiều nơi nó có thể được thay thế bởi tên khác, ví dụ tên máy thể hiện một khu vực địa lý, ví dụ như “encarta.msn.com”, tên miền của Microsoft’s Encarta encyclopedia,  tên máy “encarta” được thay thế cho www.

Tập hợp các máy chủ tên miền (domain name servers – DNS) ánh xạ các tên miền dễ đọc tới các địa chỉ IP tương ứng. Những máy chủ này lưu trữ cơ sở dữ liệu tên miền ánh xạ đến địa chỉ IP, và chúng được bố trí nhiều nơi trên mạng Internet.  Các công ty, các nhà cung cấp dịch vụ Internet hoặc các trường đại học đều duy trì máy chủ tên miền cỡ nhỏ để ánh xạ các tên máy tới các địa chỉ IP tương ứng. Tại VeriSign, cũng có các máy chủ tên miền trung tâm sử dụng dữ liệu được cung cấp bởi VeriSign để ánh xạ các tên miền đến địa chỉ IP.

Nếu bạn gõ địa chỉ http://computer.howstuffworks.com/web-server.htm vào  trình duyệt web, trình duyệt sẽ tách tên miền http://www.howstuffworks.com và gửi nó tới máy chủ tên miền, sau đó máy chủ tên miền sẽ gửi ngược lại  địa chỉ IP đúng với tên miền http://www.howstuffworks.com.

Trên máy chủ UNIX, bạn có thể biết các thông tin tương tự bằng cách sử dụng lệnh  nslookup và đơn giản chỉ cần gõ vào một cái tên  http://www.howstuffworks.com trên dòng lệnh, câu lệnh sẽ tìm kiếm tên máy chủ và chuyển địa chỉ IP tương ứng cho bạn.

Như vậy, Internet được tạo thành bởi hàng triệu máy tính, mỗi máy sẽ có địa chỉ IP duy nhất. Trong số đó, rất nhiều các máy tính là các máy chủ  cung cấp dịch vụ cho các máy khác trên Internet, ví dụ như máy chủ e-mail, máy chủ web, máy chủ FTP, máy chủ Gopher, máy chủ Telnet…

Cổng (Ports))
Bất kỳ máy chủ khi cung cấp các dịch vụ trên Internet, đều sử dụng cổng được đánh số. Ví dụ, máy chủ chạy dịch vụ  web và dịch vụ FTP, dịch vụ WEB thường dùng cổng 80, dịch vụ FTP dùng cổng 21. Các máy khách khi kết nối tới một dịch vụ, thường chỉ rõ địa chỉ IP và kết nối qua một cổng cụ thể.
Trên Internet, mỗi dịch vụ đều có sẵn cổng tương ứng. dưới đây là danh sách các dịch cụ và các cổng tương ứng:

  • echo 7
  • daytime 13
  • qotd 17 (Quote of the Day)
  • ftp 21
  • telnet 23
  • smtp 25 (Simple Mail Transfer, meaning e-mail)
  • time 37
  • nameserver 42
  • nicname 43 (Who Is)
  • gopher 70
  • finger 79
  • WWW 80

Khi máy chủ chấp nhận các kết nối từ bên ngoài qua một cổng nào đó và nếu bức tường lửa không chặn cổng đó, bạn có thể kết nối cổng đó từ bất kỳ nơi nào trên Internet và sử dụng dịch vụ tương ứng. Tuy nhiên, không bắt buộc  phải đặt chính xác số cổng với dịch vụ tương ứng, ví dụ với dịch vụ web thường là cổng 80. Nhưng nếu bạn cài đặt máy chủ và phần mềm Web server trên máy chủ đó, bạn có thể đặt dịch vụ web trên một cổng bất kỳ không sử dụng, ví dụ cổng 918.

Sau đó, nếu máy chủ của bạn được đặt tên là xxx.yyy.com, một người duyệt web nào đó trên Internet sẽ kết nối tới máy chủ của bạn với địa chỉ là  http://xxx.yyy.com:918 “:918” thể hiện số cổng, và luôn đi kèm với địa chỉ kết nối tới máy chủ của bạn. Nếu không có số cổng, trình duyệt web sẽ hiểu máy chủ cung cấp dịch vụ web qua cổng 80.

Giaothức (Protocols)
Khi máy khách kết nối tới một dịch vụ trên một cổng nào đó, nó thường truy cập dịch vụ  thông qua một giao thức cụ thể. Giao thức  là sự định nghĩa sẵn cách thức mà đối tượng như phần mềm máy tính, trình duyệt web dùng để “giao tiếp” với các dịch vụ mà chúng muốn sử dụng. Giao thức thường là các đoạn text và đơn giản là mô tả cách thức máy khách và máy chủ “đàm thoại với nhau”

Giao thức đơn giản nhất là  daytime protocol. Nếu bạn kết nối tới cổng 13 trên máy chủ có dịch vụ daytime, máy chủ sẽ gửi tới máy tính của bạn thông tin ngày tháng và sau đó tự động ngắt kết nối.
Trên hệ thống UNIX hỗ trợ dịch vụ trên, nếu bạn muốn thử, bạn có thể kết nối bằng ứng dụng  Telnet. Ví dụ

%telnet web67.ntx.net 13
Trying 216.27.61.137…
Connected to web67.ntx.net.
Escape character is ‘^]’.
Sun Oct 25 08:34:06 1998
Connection closed by foreign host.

Trên hệ thống máy chủ Windows, bạn có thể truy cập dịch vụ trên bằng cách gõ “telnet web67.ntx.net 13″ tại dấu nhắc của MSDOS.

Trong ví dụ này, “web67.ntx.net” là tên máy chủ UNIX, và số 13 là số cổng cho dịch vụ daytime. Ứng dụng Telnet kết nối tới cổng 13, sau đó máy chủ gửi trả lại  thông tin ngày tháng và ngắt kết nối.

Hầu hết các giao thức khác đều phức tạp hơn so với giao thức Daytime. Danh mục các giao thức được nêu trong tài liệu Request for Comment (RFC) tại website http://sunsite.auc.dk/RFC/.
Mỗi máy chủ Web trên Internet đều phải hỗ trợ giao thức HTTP. Hình thức cơ bản nhất của giao thức này được biểu diễn qua câu lệnh: GET. Nếu bạn kết nối tới máy chủ hỗ trợ giao thức HTTP và yêu cầu “GET tên tệp”, máy chủ sẽ trả lời bạn bằng việc gửi nội dung của tệp  và sau đó ngắt kết nối. Ví dụ như sau:

%telnet http://www.howstuffworks.com 80
Trying 216.27.61.137…
Connected to howstuffworks.com.
Escape character is ‘^]’.
GET http://computer.howstuffworks.com/
<html>
<head>
<title>Welcome to How Stuff Works</title>
  …
</body>
</html>
Connection closed by foreign host.

Trong giao thức HTTP nguyên bản, bạn sẽ cung cấp đầy đủ đường dẫn của tên tệp, ví dụ như “/” hoặc “/tên tệp.htm”. Sau đó, giao thức sẽ tự điều chỉnh để có thể đưa ra một địa chỉ URL đầy đủ. Điều này cho phép các công ty kinh doanh dịch vụ lưu trữ có thể lưu trữ nhiều virtual domains (tên miền ảo), có nghĩa nhiều tên miền cùng tồn tại trên một máy chủ và sử dụng cùng một địa chỉ IP duy nhất. Ví dụ, trên máy chủ của HowStuffWorks, địa chỉ IP là 209.116.69.66, nhưng nó có hàng trăm tên miền khác nhau cùng tồn tại.

Tập hợp các kiến thức (Putting It All Together)
Đến lúc này,  bạn đã hiểu cơ bản thế nào là  Internet. Bạn biết rằng khi bạn gõ vào một địa chỉ URL trên trình duyệt web, thì thứ tự các tiến trình sau sẽ xảy ra:

  • Trình duyệt web sẽ tách URL ra làm 3 phần:
  1. Giao thức (“http”)
  2. Tên máy chủ (“www.howstuffworks.com”)
  3. Tên tệp (“web-server.htm”)
  • Trình duyệt liên hệ với một máy chủ tên miền để chuyển đổi tên miền “www.howstuffworks.com”  sang địa chỉ IP, để có thể kết nối tới máy chủ có địa chỉ IP này.
  • Trình duyệt sẽ thực thi một kết nối tới máy chủ web có địa chỉ IP trên qua cổng 80
  • Dựa trên giao thức HTTP, trình duyệt sẽ gửi câu lệnh GET tới máy chủ, yêu cầu  tệp http://computer.howstuffworks.com/web-server.htm. (Lúc này, cookies cũng sẽ được gửi kèm theo câu lệnh GET  từ trình duyệt tới máy chủ)
  • Máy chủ gửi đoạn text dưới dạng HTML tới trình duyệt web.(cookies cũng sẽ được gửi từ máy chủ đến trình duyệt và thường được ghi trên tiêu đề của trang)
  • Trình duyệt đọc các thẻ lệnh HTML và định dạng thành trang web  và đưa ra màn hình của bạn.

Mở rộng (Extras)
Qua phần mô tả ở trên, bạn cũng nhận thấy Web server là một phần mềm nhỏ rất đơn giản. Nó nhận tên tệp được gửi trong câu lệnh GET, tìm tệp đó và gửi lại trình duyệt web.  Thậm trí, nếu bạn có tất cả các mã code để quản lý các cổng và mỗi kết nối qua từng cổng đó, bạn dễ dàng tạo ra một chương trình C, với hơn 500 dòng lệnh, có thể họat động  như một phần mềm Web server đơn giản. Hiển nhiên, đối với một phần mềm Web server chuyên nghiệp có đầy đủ các tính năng thì phức tạp hơn nhiều, nhưng các xử lý cơ bản thì rất đơn giản.

Rất nhiều máy chủ web đưa thêm các chế độ bảo mật trong nhiều tiến trình xử lý.  Ví dụ, khi bạn truy cập vào một trang web và trình duyệt đưa ra một hộp hội thoại yêu cầu bạn đưa vào tên truy cập và mật khẩu, lúc này  trang web mà bạn truy cập đã được bảo vệ bằng mật khẩu. Máy chủ web hỗ trợ  người quản lý trang web duy trì một danh sách tên và mật khẩu cho phép những người được phép truy cập vào trang web. Đối với những máy chủ chuyên nghiệp, yêu cầu mức độ bảo mật lớn hơn, chỉ cho phép những kết nối đã được mã hóa giữa máy chủ và trình duyệt, do đó những thông tin nhạy cảm như mã số thẻ tín dụng… có thể được  truyền tải tên Internet.

Đó là tất cả những vấn đề cơ bản  mà máy chủ Web họat động để truyền tải các trang web chuẩn hay còn gọi là trang web tĩnh. Các trang web tĩnh là những trang web không thay đổi, trừ khi người tạo ra trang web đó thay đổi lại.

Thế còn trang web động là gì?  Bạn hãy xem các ví dụ sau:

  • Search engine cho phép bạn gõ vào các từ khóa trong một form HTML, sau đó nó tự động tạo ra trang web dựa trên từ khóa đó.
  • The whois form at VeriSign cho phép bạn đưa vào tên miền trong form HTML  và nội dung trang web được gửi trả lại sẽ thay đổi tùy thuộc vào tên miền mà bạn gõ vào.

Trong tất các trường hợp trên, máy chủ  web không chỉ đơn giản là “tìm kiếm một tệp”. Nó thực sự là một quá trình xử lý thông tin ,rồi kết xuất ra trang web dựa trên các kết quả truy vấn. Trong hầu hết các trường hợp trên, máy chủ Web thường sử dụng  các đoạn chương trình, gọi là các đoạn mã CGI scripts để giải quyết bài toán.

Tác giả: Marshall Brain
Dịch từ Howstuffworks

Giả lập môi trường mạng với Personal Web Server
Xem bai viet bang font ABC

Hoàng Nam Hải Địa chỉ E-mail: HoangNamHai@Hotmail.Com

        1. Bạn có cần thiết lập một mạng cho riêng mình?

        Lập trình trên mạng, đó là một công việc khá thú vị, Nhưng một trong những khó khăn gây cản trở rất lớn đối với những người yêu thích việc lập trình mạng đó là việc thiết lập một mạng máy tính nhỏ cho riêng mình để thử nghiệm và viết các chương trình. Xin lưu ý với bạn rằng: bạn cần thiết lập một mạng máy tính dành riêng cho mình để thực hiện công việc nghiên cứu, thử nghiệm chương trình. Điều này rất quan trọng. Giả sử như ở cơ quan của bạn cũng có một mạng máy tính, có thể đây là một môi trường phù hợp để bạn có thể phát triển những ứng dụng mạng của mình. Tuy nhiên hãy xem xét vấn đề sâu hơn một chút. Bạn có quyền truy nhập mạng, hẳn rồi, tuy nhiên bạn có quyền đọc, ghi/lưu trữ các thông tin, sửa đổi cấu hình hay cho chạy một số ứng dụng trên máy chủ trên máy chủ không? (Tôi chắc rằng một số chương trình của bạn cần được chạy trên máy chủ). ở hầu hết các mạng cục bộ trong các cơ quan, do vấn đề bảo mật thông tin, rất ít người sử dụng được các quyền này. Kể cả trong trường hợp có toàn quyền điều khiển máy chủ, đôi lúc bạn vẫn có thể gặp rắc rối. Đó là những lúc bạn cài thêm cho máy chủ một số phần mềm hoặc thiết lập lại cấu hình cho phù hợp với yêu cầu của bạn máy chủ gặp một số trục trặc nho nhỏ. Như bạn đã biết, máy chủ là một trong những hạt nhân, một thành phần không thể thiếu được của mạng, vì vậy việc máy chủ ngừng hoạt động trong vài giờ cũng đủ để mọi hoạt động máy tính trong mạng ngưng trệ…

        Hãy thử đơn giản hoá một cách tối đa những gì bạn cần để thiết lập một mạng máy tính cho riêng mình: 2 máy PC (một máy chủ, một máy khách), một số cáp nối, modem, card mạng, hub? Phương pháp này có thể chấp nhận được tuy nhiên hơi tốn kém (hiển nhiên rồi, cần gì phải có tới 2 máy PC trong khi các chương trình của bạn chỉ cần viết trên một máy là quá đủ).

        Quả là khó khăn! Tuy nhiên vẫn còn một giải pháp khác rất đơn giản, tiện lợi và cũng khá hiệu quả, đó là: sử dụng chương trình Personal Web Server (PWS). PWS hay Web Server cá nhân là một chương trình được Microsoft cung cấp nhằm giúp bạn tổ chức mạng INTRANET chạy với Windows95 OSR2/98 và WindowsNT. Chương trình này được đi kèm với phiên bản Windows98, FrontPage97 và FrontPage98. Như vậy, với chương trình này, máy PC của bạn vừa đóng vai trò là máy chủ (web server), vừa đóng vai trò là máy khách, do vậy bạn có thể thoải mái thực hiện các thử nghiệm cũng như thiết lập lại cấu hình theo ý mình. Nếu bạn có modem và một đường kết nối với Internet, những người sử dụng khác cũng có thể qua Internet/Intranet để vào xem những trang Web trên máy của bạn. Rất thú vị?

        2. Cài đặt và làm việc với PWS

        Nếu như máy tính của bạn chưa được cài đặt Personal Web Server, hãy cài đặt nó theo các bước sau đây:

  1. Vào Control Panel
  2. Chọn Network
  3. Trên hộp thoại hiện ra, nhấn nút Add
  4. Tiếp đó chọn Service –> Microsoft –> Personal Web Server và nhấn OK và khởi động lại máy.

        Sau khi bạn đã cài xong PWS, hãy bỏ một chút thời gian để học cách làm việc với nó. Trước hết, hãy nhấn kép lên biểu tượng Personal Web Server trong Control Panel. Trên khung hộp thoại hiện ra, nhấn vào thanh Start Up và nhấn nút Start để khởi động PWS. Từ lúc này, máy của bạn đã được giả lập thành một Web Server. Địa chỉ web của bạn lúc này sẽ là: http://(tên máy chủ của bạn)/

        Ví dụ như: tên máy của tôi là: HoangNamHai  thì địa chỉ web của tôi lúc này sẽ là: http://HoangNamHai/ (Nếu bạn không biết chắc chắn tên máy của mình là gì, hãy vào Network trong Control Panel, chọn Indentification, chuỗi ở trong ô Computer name chính là tên máy của bạn. Bây giờ bạn có thể dùng trình duyệt để xem thử trang web mặc định tại địa chỉ này. Chú ý: ngoài địa chỉ trên bạn còn được cung cấp một địa chỉ khác là: http://localhost/ và một địa chỉ IP mặc định: 127.0.0.1; Hãy ghi nhớ con số này, nó sẽ rất cần thiết đối với bạn trong việc lập trình sau này.

        Phải công nhận rằng trông nó xấu tồi tệ, tuy nhiên không có vấn đề gì, bạn có thể sửa đổi được nó – nó hoàn toàn nằm dưới tầm kiểm soát của bạn mà.

        2.1 Sửa đổi trang Web mặc định

        Lý do để sửa trang Web nguồn là hoàn toàn hợp lý: nó quá xấu và không phù hợp với bạn, nhưng vấn đề đặt ra bây giờ là làm thế nào để sửa nó.

        Khi bạn cài đặt PWS, trên ổ đĩa C của bạn sẽ xuất hiện một thư mục mới với tên gọi: WebShare. Tất cả những file, những trang Web được đặt trong thư mục WWWRoot (thư mục con của WebShare) sẽ được coi là các file được đặt trên web server của bạn. Điều này có nghĩa là khi muốn đặt một file dữ liệu hay một trang web nào đó vào server của mình, bạn chỉ cần đơn giản là thực hiện sao chép các file vào trong thư mục này.

        Chú ý: trong thư mục này, bạn nên để trang homepage của mình có tên là: default.htm. Điều này rất hữu ích bởi vì: khi bạn nhập vào dòng địa chỉ: http://localhost/ trang default.htm này cũng sẽ được gọi ra thay vì phải đánh đầy đủ địa chỉ là: http://localhost/default.htm. Với phương pháp này bạn có thể tiết kiệm được khá nhiều thời gian trong quá trình sử dụng sau này.

        Để tiện cho việc sắp xếp, phân loại và cập nhật dữ liệu, bạn có thể tạo cho mình các thư mục con ở bên trong này. Chẳng hạn như thư mục: image là dùng để lưu trữ các file hình ảnh, thư mục sound là dùng để chứa các file âm thanh… Nhưng thay vì dấu ngăn cách giữa các tên thư mục là: “\ ” như ở trong môi trường Windows, dấu ngăn cách giữa các tên thư mục được qui định để truy nhập trong PWS sẽ là: “/”

        2.2 Quản lý dịch vụ WWW

        Phải nói rằng việc quản lý dịch vụ WWW của PWS khá đơn giản, công việc quản lý không những có thể thực hiện trên máy cài PWS mà còn có thể được thực hiện trên bất kì một máy khách nào khác có sử dụng trình duyệt (ví dụ như Microsoft Internet Explorer hay Netscape Navigator). Để khởi động trình quản lý, bạn có thể thực hiện một trong hai cách sau:

  • Mở Control Panel, nháy kép chuột trên biểu tượng Personal Web Server và nhấn vào thanh Administration và cuối cùng là nhấn nút Admin.
  • Nhấn phím phải chuột trên biểu tượng Personal Wev Server trên thanh taskbar và nhấn vào dòng Administer.

        Phần quản lý dịch vụ WWW được chia làm ba mảng lớn

  1. Quản lý việc truy nhập dịch vụ: định số kết nối tối đa mà máy chủ có thể chấp nhận, yêu cầu mật khẩu khi truy nhập…
  2. Quản lý các thư mục: bạn có thể thêm, xoá hoặc đổi tên các thư mục cũng như đường dẫn ảo của nó. Ngoài ra bạn cũng có thể đặt các thuộc tính cho phép đọc/thực hiện các chương trình trong thư mục này.
  3. Quản lý việc ghi nhận các thông tin được truy nhập

        Tuy nhiên theo ý kiến của tôi, có lẽ bạn chẳng bao giờ phải đụng đến chức năng này mặc dù nó không quá khó để sử dụng.

        2.3 Personal Web Server và các cơ chế bảo mật
Các cơ chế bảo mật trong PWS chỉ được đặt với các thư mục, chẳng hạn như đối với Windows 95, File and Print Sharing đối với mạng Microsoft hay mạng NetWare sử dụng bảo mật cấp người sử dụng.

        2.3.1 Cơ chế bảo mật Pass-Through

Nếu máy tính của bạn được đặt ở chế độ điều khiển truy nhập mức người sử dụng thông qua mạng, tên người sử dụng được quyền truy nhập Web Server cá nhân ở trên máy của bạn cũng phải có mặt trong danh sách người sử dụng domain NT, NetWare server 3.x, and NetWare 4.x. Bạn có thể tìm thêm thông tin về vấn đề này trong các tài liệu của Windows 95.

        Cũng giống như Microsoft Internet Information Server (IIS), PWS sử dụng cơ chế bảo mạt dựa trên cơ sở hệ thống giao thức bảo mật Windows NT.

        2.3.2 Cơ chế bảo mật ở mức độ dùng chung

        Nếu máy tính của bạn được đặt ở chế độ bảo mật dùng chung (share-level), bạn sẽ không thể sử dụng danh sách những người sử dụng để hạn chế truy nhập vào các trang Web của bạn.

        2.3.3 Cơ chế bảo mật ở mức độ dùng chung

        Nếu Windows95 không được đặt cấu hình để hỗ trợ chế độ File and Print Sharing cho mạng Microsoft hay mạng Netware, PWS sẽ sử dụng cơ sở dữ liệu người sử dụng cục bộ để quản lý cơ chế bảo mật ở mức độ dùng cho cho Web server của bạn và các thư mục con.

        Đối với cơ chế bảo mật này, bạn có thể quản lý người sử dụng thông qua các ứng dụng dựa trên cơ sở Web.

        FTP Server

        Ngoài Web Server cá nhân, khi cài đặt Microsoft Personal Web Server, bạn còn được cung cấp thêm một dịch vụ hữu ích nữa: FTP Server cá nhân. Cũng giống như ở trong Web Server, địa chỉ FTP Server của bạn sẽ là:

ftp://localhost/  hay

ftp://127.0.0.1/  hay

ftp://(tên máy)/

        Đây là một cơ hội khá tốt cho bạn tìm hiểu cấu trúc, cơ chế hoạt động của FTP Server và tập thiết kế những chương trình làm việc với chúng. Cấu trúc thư mục của FTP Server cũng được định nghĩa theo một cách tương tự như của Web Server (tức là dấu phân cách giữa tên các thư mục là “/” thay vì “\” như bạn thường gặp ở trong DOS hay Windows. Thư mục gốc của FTP Server được đặt ở trên ổ đĩa cứng của bạn với đường dẫn như sau: C:\WebShare\FTProot\. Vì vậy, tất cả những file được bạn đặt vào trong thư mục này sẽ được coi như ở trên máy chủ FTP, bạn có thể thêm thắt, sửa đổi nội dung của nó lúc nào tuỳ thích.

        Chú ý: Web Server cá nhân và FTP Server cá nhân tuy cùng thuộc một chương trình nhưng chúng hoạt động độc lập với nhau. Như vậy, khi Web Server đang hoạt động thì không có nghĩa là FTP Server cũng đang hoạt động. Bạn có thể bật/tắt hoạt động của hai chương trình này bằng cách sau: nhấn kép vào biểu tượng Personal Web Server trong mục Control Panel. Trên hộp thoại hiện ra, nhấn vào thanh Services. Hộp thoại sẽ thông báo cho bạn biết ứng dụng nào đang được chạy, và ứng dụng nào chưa được chạy. Bạn có thể sử dụng nút Start hoặc Stop để điều khiển các chương trình theo ý mình.

        Để kiểm tra xem FTP Server đã hoạt động tốt hay chưa, bạn nên dùng trình duyệt và trỏ tới địa chỉ ftp://localhost/ Nếu như trình duyệt trả về danh sách các file có trong thư mục c:\WebShare\Ftproot\ thì có nghĩa là FTP Server đã sẵn sàng sử dụng rồi đó.

        3. Kết luận

        Xét trên một mặt nào đó, khi các chương trình của bạn chạy tốt đối với Web Server cá nhân không có nghĩa là nó chạy tốt hoàn toàn trên mạng. Một số lỗi hoặc vấn đề sẽ phát sinh chỉ khi chạy thử các ứng dụng của mình trên hai máy khác nhau, tuy nhiên một điều không thể phủ nhận rằng, PWS là một giải pháp đơn giản, tiết kiệm rất hữu ích với những bạn không có điều kiện tiếp xúc và thực hành trực tiếp trên mạng nhưng có nhu cầu sử dụng môi trường mạng để học tập và nghiên cứu.

        Cũng phải nói thêm rằng, Microsoft Personal Web Server không phải là một chương trình duy nhất cho phép bạn giả lập máy tính của mình thành một máy chủ, nhưng tôi cho rằng đây là một trong những chương trình sẵn có tốt nhất có thể đáp ứng được yêu cầu của bạn nhưng bộ phần mềm này không hỗ trợ việc giả lập Mail Server và cài đặt hệ thống Firewall. Nếu như bạn cảm thấy thú vị trong việc nghiên cứu hoạt động và lập trình với các vấn đề này, hãy vào địa chỉ www.download.com để tải xuống một số phần mềm tương ứng.

        Nếu như bạn cần trao đổi với tôi về bài viết này, xin gửi thư tới địa chỉ email: HoangNamHai@Hotmail.Com.

Chúc các bạn thành công.

Tính toán và chuyển font chữ trong Word

Chúng ta đã từng biết đến những mẹo nhỏ trong Word như: bảo mật văn bản, tăng tốc độ xử lý, chữa lỗi thường gặp. Trong đó, có thể nhắc đến hai thủ thuật rất tiện lợi và phổ biến sau: sử dụng máy tính và chuyển font chữ trong Word.

Dùng máy tính trong word

Khi đang thao tác word, đôi khi bạn cần phải thực hiện các phép tính toán đơn giản như: cộng, trừ, nhân, chia. Thay vì phải vào tiện ích máy tính (calculator) có sẵn trong máy tính (việc làm này thường mất nhiều thời gian), người dùng có thể sử dụng máy tính được tích hợp sẵn trong Word.

Máy tính này giúp bạn đưa ra kết quả của các phép toán cần tính một cách nhanh chóng và tiện dụng. Để sử dụng được chức năng này trong word, trước tiên, bạn vào mục Tools/Customize. Tiếp theo, bạn kích chuột vào tab Commands sẽ hiển thị ra cửa sổ sau: 

Tại mục Categories bạn chọn Tools. Sau chi chọn Tools, tại cửa sổ Commands bạn chọn Tools Caculate. Cuối cùng, bạn dùng chuột trái để kéo thả Tools Calculate vào bất kỳ thanh công cụ nào bạn muốn. Ví dụ sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách sử dụng công cụ máy tính trong Word.

Giả sử bạn cần thực hiện phép tính (5+3)/(3-1). Thật đơn giản, bạn chỉ cần bôi đen biểu thức cần tính, sau đó nhấn chuột vào Tools Calculate. Kết quả của phép tính này sẽ được hiển thị tại đáy cửa sổ, ngoài ra bạn có thể dùng lệnh Ctrl + V để dán kết quả vào.

Chuyển font chữ trong word

Vì một lý do nào đó, hai đoạn của một văn bản lại được đánh bởi font khác nhau, giả sử đoạn trên dùng font .Vntime, phần còn lại sử dụng font Times New Roman, bạn không muốn mất thời gian đánh lại toàn bộ văn bản trên, nếu vậy bạn có thể sử dụng tiện ích sau chuyển đổi font chữ trong Unikey. Để thực hiện được chức năng này bạn cần có chương trình Unikey, bạn có thể tải về miễn phí phần mền này từ trên mạng về.

Trước tiên, bạn mở file văn bản ra, sau đó bôi đen toàn bộ phần cần chuyển đổi font. Tiếp theo, bạn kích chuột phải vào icon Unikey tại thanh công cụ. Tại menu của Unikey bạn kích vào mục Chuyển nhanh. Sau khi kết thúc thao tác này, sẽ hiển thị ra dòng chữ “Convert successfully” thông báo rằng bạn đã chuyển đổi font thành công. Cuối cùng, bạn quay lại văn bản ban đầu và Paste lại vào đây. 

Theo Dantri.com.vn

Dùng máy tính trong word

Khi đang thao tác word, đôi khi bạn cần phải thực hiện các phép tính toán đơn giản như: cộng, trừ, nhân, chia. Thay vì phải vào tiện ích máy tính (calculator) có sẵn trong máy tính (việc làm này thường mất nhiều thời gian), người dùng có thể sử dụng máy tính được tích hợp sẵn trong Word.

Máy tính này giúp bạn đưa ra kết quả của các phép toán cần tính một cách nhanh chóng và tiện dụng. Để sử dụng được chức năng này trong word, trước tiên, bạn vào mục Tools/Customize. Tiếp theo, bạn kích chuột vào tab Commands sẽ hiển thị ra cửa sổ sau: 

Tại mục Categories bạn chọn Tools. Sau chi chọn Tools, tại cửa sổ Commands bạn chọn Tools Caculate. Cuối cùng, bạn dùng chuột trái để kéo thả Tools Calculate vào bất kỳ thanh công cụ nào bạn muốn. Ví dụ sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách sử dụng công cụ máy tính trong Word.

Giả sử bạn cần thực hiện phép tính (5+3)/(3-1). Thật đơn giản, bạn chỉ cần bôi đen biểu thức cần tính, sau đó nhấn chuột vào Tools Calculate. Kết quả của phép tính này sẽ được hiển thị tại đáy cửa sổ, ngoài ra bạn có thể dùng lệnh Ctrl + V để dán kết quả vào.

Chuyển font chữ trong word

Vì một lý do nào đó, hai đoạn của một văn bản lại được đánh bởi font khác nhau, giả sử đoạn trên dùng font .Vntime, phần còn lại sử dụng font Times New Roman, bạn không muốn mất thời gian đánh lại toàn bộ văn bản trên, nếu vậy bạn có thể sử dụng tiện ích sau chuyển đổi font chữ trong Unikey. Để thực hiện được chức năng này bạn cần có chương trình Unikey, bạn có thể tải về miễn phí phần mền này từ trên mạng về.

Trước tiên, bạn mở file văn bản ra, sau đó bôi đen toàn bộ phần cần chuyển đổi font. Tiếp theo, bạn kích chuột phải vào icon Unikey tại thanh công cụ. Tại menu của Unikey bạn kích vào mục Chuyển nhanh. Sau khi kết thúc thao tác này, sẽ hiển thị ra dòng chữ “Convert successfully” thông báo rằng bạn đã chuyển đổi font thành công. Cuối cùng, bạn quay lại văn bản ban đầu và Paste lại vào đây. 

Theo Dantri.com.vn

Khắc phục sự cố trong Word

Word là một trong những ứng dụng Windows mà bạn sử dụng khá thường xuyên. Chính vì thế, sẽ thật phiền toái nếu như một ngày nào đó, Word “dở chứng”.

Bằng những bước đơn giản, bạn có thể giải quyết được các vấn đề rắc rối mà Word gặp phải như dưới đây:
- Mất toolbar.
- Word hay báo lỗi và tự động đóng lại khi đang làm việc
- Word “đơ” ngay sau khi bạn mở
- Một số “hoạt động” bất thường của Word.

Nếu như bạn thấy Word có những dấu hiệu như trên thì có thể lỗi nằm trong template Normal hoặc trong add-in. Để tìm và loại bỏ những rắc rối này, bạn có thể thực hiện theo hướng dẫn sau:

Xoá tất cả các file tạm thời

Bất kể khi nào bạn mở một văn bản, Word cũng sẽ tạo ra một file tạm để lưu trữ tất cả các thông tin về văn bản đó. Thông thường, Word sẽ xoá các file tạm này khi bạn đóng văn bản, tuy nhiên, thỉnh thoảng, vì một lý do nào đó mà chúng vẫn lưu lại trong máy của bạn và gây ra một số rắc rối khiến cho Word hay Windows của bạn hoạt động không đúng cách.

Cách tốt nhất để xoá các file tạm là từ Windows Explorer:

- Đóng tất cả các ứng dụng Windows
- Nhấn phím F3 để mở chức năng tìm kiếm trong Windows Explorer
- Đảm bảo rằng bạn tìm kiếm trong tất cả các ổ đĩa, và cả thư mục con.
- Gõ dòng chữ sau vào trong hộp tìm kiếm: *.tmp;~*.do?;~*.wbk
- Kích chuột vào phím Search (tìm kiếm).
- Xoá tất cả các file được tìm thấy.

Có một số người (hoặc một chương trình nào đó) thường đặt tên file có thêm dấu (~), và do đó, các file này cũng sẽ hiện ra trong kết quả tìm kiếm. Trước khi bạn xoá tất cả các file, hãy chắc chắn rằng chúng thực sự là các file tạm. Nếu như bạn vẫn gặp phải các rắc rối thì có thể kiểm tra lại các template (mẫu) mà Word tải xuống khi bạn bắt đầu kích hoạt ứng dụng Office này.

Mở Word “sạch”

Mỗi khi bạn mở Word, các template Normal sẽ được tải xuống cùng với các add-in trong folder Startup của bạn. Bạn có thể “chỉ bảo” cho Word biết cách khởi động mà không cần phải tải bất kỳ một template nào:

- Mở Word bằng cách kích chuột vào menu Start, chọn Run, sau đó gõ: winword.exe /a
Tiếp theo ấn Enter. Hãy nhớ là có một dấu gạch chéo trước chữ a (/a). Điều này sẽ giúp bạn mở Word mà không tải bất kỳ add-in, template hay Normal.dot. Nếu như điều này có thể giúp bạn giải quyết vấn đề mà bạn đang gặp phải thì hãy xem tiếp bước sau, còn nếu không, bạn có thể bỏ qua mẹo này.
- Đóng Word.
- Sử dụng chức năng Windows Fine để xác định vị trí của Normal.dot:
+ Nhấn F3 để mở cửa sổ tìm kiếm
+ Đảm bảo rằng lệnh tìm kiếm của bạn được thực hiện ở tất cả các ổ và cả các thư mục con
+ Gõ chữ Normal.dot trong hộp thoại tìm kiếm và nhấn phím Search.

Tuỳ thuộc vào phiên bản Windows mà Normal.dot có thể là một folder ẩn. Trong Windows Explorer, chọn Tools/Folder Options, chọn thẻ View, và kích chuột vào ô chọn “Show hidden files and folders”.

- Kích chuột phải vào Normal.dot trong kết quả tìm kiếm và đổi tên nó thành Normal.old.
- Khởi động lại Word.

Khi bạn xoá hay đổi tên file Normal.dot, Word sẽ tạo ra một file mới dựa trên những thiết lập mặc định. Nếu như bạn giải quyết được rắc rối thì có nghĩa là template Normal của bạn có vấn đề. Còn nếu không, hãy kiểm tra các template khác cũng được tải xuống khi mở Word.

Loại bỏ các template khác

Nếu như template Normal không có lỗi, bạn cần phải kiểm tra các template và add-in khác:

- Để bắt đầu hãy xem có những template và add-in nào được kích hoạt khi khởi động Word. Muốn biết bạn hãy kiểm tra trong thư mục Startup (thông thường nó ở đường dẫn sau: C:\Documents and Settings\username\Application Data\Microsoft\Word\Startup; nếu không thấy bạn có thể tìm kiếm theo các cách trên).
- Di chuyển tất cả các file này ra khỏi folder Startup.
- Đóng Word lại, và sau đó, đưa một add-in trở lại thư mục Startup. Mở và kiểm tra Word. Nếu thấy Word hoạt động bình thường thì đóng Word lại và tiếp tục thực hiện với các add-in tiếp theo. Khi bạn thấy Word gặp vấn đề thì có nghĩa là bạn đã tìm ra được add-in có lỗi. Hãy loại bỏ add-in này.

Theo 24H.

Thủ thuật cao cấp trong MS Word

Thông thường khi sử dụng chức năng Mail Merge (Trộn thư) trong MS Word để tạo ra các thư mời hay phiếu báo điểm… mặc định của chương trình là ứng với mỗi một Record dữ liệu nhất định sẽ tạo ra một trang tập tin Main chính trên một trang giấy (A4) tương ứng.


Khi đó nếu nội dung của tập tin main chính quá ít bạn sẽ thấy trên trang giấy sẽ còn rất nhiều chổ trống và nếu bỏ đi thì thật là đáng tiếc, thủ thuật sau sẽ giúp bạn tuỳ biến số lượng mẫu tin in ra sau khi trộn trên tập tin Main chính nhằm để tiết kiệm giấy.

Để có thể làm tốt thao tác trong bài viết này đòi hỏi bạn phải thành thạo kỹ năng Mail Merge cơ bản trong Mirosoft WORD.

Bước 1: Tạo tập tin Main chính trong WORD.

Bước 2: Tạo tập tin nguồn dữ liệu trên Excel với các cột có tên tương ứng (chú ý là tên cột không nên viết dấu tiếng việt, và phải bắt đầu dữ liệu ngay tại Cell A1).

* Chú ý: tập tin dữ liệu này bạn có thể tạo bằng WORD, tuy nhiên nếu thể hiện trong Excel bạn sẽ có lợi hơn nếu bảng dữ liệu đó có hổ trợ nhiều phép tính và hàm phức tạp.

Bước 3: Trên tập tin Main chính (Word) bạn phủ khối Copy toàn bộ nội dung tập tin Main chính rồi vào menu Tools > Mail Merge.

1. Ở mục 1 Main Document nhấp nút Create > chọn Mailing Labels

2. Trong hộp thoại kế tiếp nhấp nút Active Windows.

3. Ở mục 2 Data Source nhấp nút Get Data > Open Data Source…> chỉ đường dẫn tới tập tin nguồn cơ sở dữ liệu Excel đã tạo.

4. Nhấp Ok trong hộp thoại Mirosoft Excel Entire Spreadsheet hiện ra.

Chọn toàn nội dung bảng tinh: Entire Spreadsheet.

5. Nhấp nút Set Up Main Document trong hộp thoại kế.

6. Trong hộp thoại Label Options bạn nhấp nút New Label để tạo một nhãn mới.

Chọn New-Label để tạo nhãn mới.

- Đặt tên cho nhãn mới vào dòng Label Name.

- Chọn khổ giấy thể hiện ở dòng Page Size (ví dụ A4 khổ đứng 21 x 29.7 cm).

- Tiến hành thiết lập tuỳ biến các thông số kích thước thể hiện: Number across (số cột của trang, ví dụ 1), Number Down (số bản ghi thể hiện trên một trang, ví dụ 3)…. ở các thông số khác khi vừa thiết lập bạn vừa xem sự thể hiện của khổ giấy ở khung Preview phía trên đến khi cảm thấy ưng ý nhất (các thông số tôi thiết lập trong ví dụ này là do tuỳ biến cá nhân chỉ có mức độ gợi ý tham khảo).

7. Trong hộp thoại Create Label kế tiếp bạn dán nội dung của tập tin Main chính đã Copy ở đầu bước 3 vào khung Sample label, rồi nhấp nút Insert Merge Field phía trên để lần lượt chèn vào các trường dữ liệu tương ứng từ tập tin database vào tập tin Main chính.

Thao tác tương tự như chèn các trường Field bình thường lúc trộn thư, nếu tập tin Main chính dùng Font Vni thì lúc này sẽ không hiển thị tốt Font tiếng Việt.

8. Sau khi chèn xong các trường Filed tương ứng bạn nhấp OK, lúc này trong bảng cảnh báo lỗi của WORD bạn tiếp tục nhấp OK

9. Trở về hộp thoại chính của chức năng Mail Merge bạn nhấp nút Close.

Bước 4: Lúc này trên giao diện tập tin Main chính nội dung sẽ được trình bày thành 3 bản ghi như đã thiết lập ở bước 3 cùng với các trường Field đã được chèn tương ứng. Tuy nhiên lúc này sự trình bày của văn bản sẽ chưa được tốt và bạn phải tiến hành định dạng thủ công lại từng bản ghi một.

Chú ý phải định dạng sao cho nội dung 3 bản ghi là như nhau (mổi bản ghi sẽ ứng với 1 Record dữ liệu trong tập tin Database), bạn không được sao chép nguyên si nội dung giữa các bản ghi vì làm như thế sau khi trộn WORD sẽ hiểu là 3 bản ghi trên một trang A4 là của cùng một mẩu tin Record.

Bước 5: Sau khi định dạng xong bạn nhấp nút Merge để bắt đầu trộn thư. Kết quả thể hiện sẽ hết sức ưng ý (xem hình 9).

Sau cùng bạn hãy in ra máy in và dùng mắt cắt hay rọc ra thành từng bản ghi riêng biệt rồi đưa vào sử dụng. Chúc thành công!

Theo TTO.

Thumbs up Link Download Ebook các loại


ID :bsmt_ispace Pass:123123

Sổ Tay Phần Cứng 1.0,288 bài viết trong 19 chủ đề: CPU-Mainboard-RAM,VideoCard-SoundCard-PSU-Case,Thiết bị đầu vào,thiết bị đầu ra,TB lưu trữ,TB mạng,OverClock,Làm mát-Tản nhiệt,Hardware Modding,Máy tính xách tay,Sản xuất và lắp ráp PC,Siêu máy tính,Folding@Home & More,Mobile-handheld,GameConsoles,Ipod-MP3 Player,Web phần cứng,Không phân loại.

Download Here: http://www.chongthamnhung.com/forum/viewtopic.php?t=643

Sổ Tay Internet 4.1 Final, 534 bài viết trong 22 chủ đề: Online ngoài dịch vụ Internet,Lưu trữ và chia sẻ file trực tuyến,Thủ thuật chat-mail,Thủ thuật Download-Upload,Thủ thuật internet,Tìm kiếm thông tin trên internet,Tìm kiếm cr@ck/serial/key-gen,Kiếm tiền trên mạng,Webmaster,Domain/Hosting,Phần mềm-Tiện ích,Cr@cking,Hacking/Security,Dành cho phụ nữ,Phần mềm Việt/Phần mềm Việt hóa,Thủ thuật Windows-Office,Graphix-Media,USB Drive,Linux OS,Ebooks.

Download here: http://www.chongthamnhung.com/forum/viewtopic.php?t=556

Sổ tay Photoshop 2007 – Quà tặng tuyệt vời dành cho người yêu đồ họa
Cuốn sách được thực hiện bởi Dong_ki_sot
Phiên bản mới này gồm có trên 450 bài viết về đồ họa. trong đó hơn 300 bài viết tiếng Việt được phân lọai rõ ràng, mạch lạc, trình bày đẹp mắt.

http://www.chongthamnhung.com/forum/…908d4b2645b5d3

300 ebook Tiếng Việt, free Download !!!

http://www.chongthamnhung.com/forum/…908d4b2645b5d3

Toàn bộ Kỹ thuật và kinh nghiệm Việt hóa phần mềm, đơn giản, dễ hiểu ai cũng làm được…

http://www.chongthamnhung.com/forum/viewtopic.php?t=555

Toàn bộ kỹ thuật & kinh nghiệm làm ebook Tiếng Việt dạng CHM:

http://www.chongthamnhung.com/forum/viewtopic.php?t=604

Hướng dẫn Download từ RapidShare toàn tập (by ngocha85):

http://www.chongthamnhung.com/forum/viewtopic.php?t=200

Portable MS Word 2003 , 32,9 MB , mang đi mọi lúc mợi nơi, tự động cài đặt rất nhanh:

http://www.chongthamnhung.com/forum/viewtopic.php?t=687

 

——-

ebook rất hay về cách lắp ráp phần cứng-theo tui hay hơn sotayphancung

http://www.yousendit.com/download/WF…UzhwM2swTVE9PQ

Đóng “mộc” cho tập tin văn bản

Khi soạn một văn bản Word và gửi cho mọi người, bạn muốn để lại “dấu ấn” tác quyền, hãy sử dụng công cụ “đóng mộc” cho tập tin văn bản. Mọi thứ đã có sẵn trong MS Word, chỉ cần vài thao tác đơn giản để thực hiện.

 

Trước tiên, bạn mở văn bản MS Word của mình lên, vào Format > Background > Printed Watermark

 

 

Trong cửa sổ Printed Watermark, nếu muốn “đóng mộc” lên file bằng một bức ảnh, hãy chọn Picture watermark. Nhấn phím Select Picture rồi chọn tấm ảnh mà bạn muốn đưa vào file văn bản của mình. Sau đó, nếu muốn tấm ảnh của bạn chỉ hiển thị “lờ mờ” trong file- hãy chọn Washout, nếu muốn tấm ảnh hiện rõ ràng trong file- không chọn Washout.

 

 

Mục Scale hỗ trợ bạn điều chỉnh kích thước bức ảnh, chọn Auto để MS Word tự động chọn một kích thước ngẫu nhiên, ngoài ra bạn cũng có thể chọn các kiểu phóng to- thu nhỏ ảnh từ 50%-500%. Nhấn OK để tạo “mộc” cho ảnh. Hãy dùng cách này để đưa Logo công ty, chữ kí cá nhân, hay bất kì hình ảnh nào để thông báo cho mọi người biết là chủ sở hữu của file MS Word là…bạn.

 

Nếu không muốn đưa hình ảnh, bạn cũng có thể đưa địa chỉ email, tên công ty, tên bạn hay bất kì thông điệp riêng tư nào để làm “mộc” cho ảnh. Lúc đó, hãy đánh chọn Text watermark. Dòng, Text- bạn viết thông điệp của mình vào, dòng Font- bạn chọn kiểu font cho chữ, Size- để chọn kích thước cho chữ, Color- chọn loại màu cho chữ.

 

 

Nếu muốn chữ hiện “lờ mờ”- bạn đánh chọn mục Semitransparent, nếu muốn chữ hiện rõ ràng- không chọn mục Semitransparent. Muốn chữ nằm nghiêng- bạn chọn Diagonal, nếu muốn chữ nằm ngang- bạn chọn Horizontal. Nhấn OK để xác nhận chọn lựa.

 

 

Bây giờ bạn hãy mở các tài liệu của mình lên rồi thực hành “đóng mộc” cho nó ngay đi! Theo mặc định trong MS Word, thì chữ hay hình của bạn sẽ được đặt “đại” ở một chỗ nào đó mà MS Word “thích”, nếu bạn muốn di chuyển chúng đến vị trí mình muốn, vào View > Header and Footer, sau đó nhấn giữ chuột phải rồi di chuyển ảnh hay chữ đến vị trị bạn muốn. Cuối cùng nhấn Close để xác nhận vị trí.

 

Theo TTO.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.